running banner right
left
VĂN HÓA

Doanh Nhân Việt Nam Online

Doanh Nghiệp Thành Viên

  • 1.jpg
  • adong.jpg
  • daducthanh.jpg
  • gominhtri.jpg
  • hoanglong.jpg
  • kemnghia.jpg
  • ninhkieu2.jpg

Hermès: Từ xưởng thủ công nhỏ tới biểu tượng quý tộc ngành thời trang

Từ một xưởng thủ công nhỏ ở Paris, Hermès đã vươn lên thành một công ty trị giá hàng chục tỷ đô la mà vẫn duy trì mô hình hoạt động kiểu gia đình.

Hermès: Từ xưởng thủ công nhỏ tới biểu tượng quý tộc ngành thời trang

Đế chế hàng xa xỉ 177 năm tuổi

Axel Dumas, thế hệ thứ 6 của gia tộc sở hữu Hermès - thương hiệu hàng xa xỉ danh tiếng, mới nắm giữ chiếc ghế CEO của công ty từ tháng 2 năm nay. Sau nhiều tuần sắp xếp, ông tiếp phóng viên của Forbes tại trụ sở 10 tầng của công ty, nhìn ra con phố Montmartre hoa lệ.

Hermès: Từ xưởng thủ công nhỏ tới biểu tượng quý tộc ngành thời trang (1)

Điều đầu tiên mà CEO 44 tuổi này chia sẻ là tình yêu của Hermès dành cho các sản phẩm thủ công. Ông nói tiếng Anh lưu loát với giọng Pháp đặc trưng: “Chúng tôi tự xem mình là những nghệ nhân sáng tạo”. Sau đó ông dành hẳn 30 phút để nói về triết lý sống còn của Hermès, đó là phát triển tinh thần nghệ nhân.

Sau hai giờ trò chuyện, Dumas vẫn xoay quanh những chi tiết kiểu như vậy mà không trả lời vào bất kỳ vấn đề cụ thể mà phóng viên hỏi, như làm thế nào Hermès dẫn đầu trong thị trường xa xỉ trị giá 300 tỷ đô, làm sao để bán chiếc áo da cá sấu giá 94.000 đô la, hay chiếc khăn đi biển giá 1.275 đô.

Ông cũng không chia sẻ điều gì về quyết định thay thế nhà thiết kế danh tiếng Christophe Lemaire bằng Nadège Vanhee-Cybulski, giám đốc thiết kế mới 36 tuổi, trước đây làm tại The Row (thương hiệu quần áo thời trang cao cấp của cặp diễn viên song sinh Olsen).

Nhưng tất cả sự bảo thủ và kín đáo của Hermès đã đẩy cổ phiếu của công ty tăng vọt 175% trong vòng 5 năm qua. Thật vậy, trong danh sách các công ty đại chúng sáng tạo nhất thế giới của Forbes, Hermès với 177 tuổi đời được xếp hạng thứ 13, trước cả các công ty như Netflix, Priceline hay Starbucks.

Danh sách này được xác định bằng cách đo lường các công ty thương mại ở nhiều khía cạnh mà đặc biệt là sự đổi mới sáng tạo đã được thị trường công nhận.

Sự tăng trưởng vượt bậc của Hermès không dựa trên nền tảng hiệu quả công nghệ như nhiều công ty khác trong bảng xếp hạng này. Sự khéo léo của các bậc nghệ nhân là nền tảng cần thiết giúp công ty thành công nhưng chưa phải là tất cả. Giá cổ phiếu phi mã của Hermès một phần là nhờ sự tiếp quản của tập đoàn thời trang khổng lồ LVMH nhiều năm trước. Năm 2010, LVMH nắm giữ khoảng 20% cổ phần tại Hermès.

Thực sự là có một không khí thần bí bao quanh việc kinh doanh của Hermès. Nói cho cùng thì khi bán bất kỳ một loại hàng hóa nào cũng phải làm sao cho giá cả thấp nhất để cạnh tranh. Nhưng bán những thứ xinh đẹp cho những người không thực sự cần đến chúng thì sao? Điều đó đòi hỏi một nghệ thuật tinh vi mà Hermès nắm rất rõ.

Năm ngoái, công ty đã lập kỷ lục kinh doanh khi lợi nhuận lên đến 1,69 tỷ đô (trong số 5 tỷ USD doanh số bán hàng). Hermès cũng được đánh giá là công ty phát triển nhanh nhất trong ngành công nghiệp thời trang trong vòng 6 năm qua. Thành công này được tạo nên bằng việc xây dựng và tiếp thị khéo léo một loạt thương hiệu, trong đó có túi Birkin, biểu tượng của Hermès.

Khi xem xét cơ cấu sở hữu Hermès, Forbes ước tính có ít nhất 5 thành viên gia đình nằm trong danh sách tỷ phú thế giới. Tổng tài sản của gia đình Dumas hiện nay lên đến 25 tỷ đô la, bằng nhà Rockefellers, nhà Mellons và Ford cộng lại.

Ba bước ngoặt quan trọng

Khởi thủy của cỗ máy kiếm tiền ấn tượng này là một doanh nghiệp gia đình, nơi có xu hướng bóp nghẹt sự đổi mới chứ không phải là khuyến khích phát huy.

Bước ngoặt đầu tiên là năm 1837, Thierry Hermès,một nghệ nhân làm đồ da, mở cửa hàng nhỏ tại Paris. Thời mà người ta còn đi lại bằng xe ngựa thì chất lượng và vẻ đẹp của yên cương Hermès là vô song.

Một cửa hàng của Hermès ở Paris

Thierry chỉ có một đứa con là Charles-Emile - người chuyển cửa hàng đến số 24 Rue du Faubourg Saint-Honoré, trụ sở của công ty cho đến ngày nay. Charles-Emile có hai con trai là Adolphe và Émile-Maurice, những người đã đổi tên công ty thành Hermès Frères.

Nhưng sau đó, Adolphe cho rằng công ty không có tương lai trong thời đại đi lại không dùng ngựa. Aldolphe đã để lại công ty cho Emile. Emile có bốn con gái (một trong số họ qua đời vào năm 1920). Điều này giải thích lý do tại sao không có ai trong gia đình mang họ Hermès. Họ là con cháu thế hệ thứ năm và thứ sáu của gia đình.

Bước ngoặt kế tiếp là vào năm 1989. Trong suốt thế kỷ 20, Hermès vẫn là một trong những thương hiệu xa xỉ lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, việc tập trung vào sản xuất đồ da bằng tay tại 12 xưởng tại Pháp với hơn 3.000 công nhân lành nghề không đủ để Hermes “phi nước đại”.

Dưới thời Jean-Louis Dumas, Giám đốc điều hành 1978-2006, cấu trúc sở hữu của gia đình được tách ra thành nhiều lớp như kiểu búp bê Nga, được chia ra cho sáu công ty nắm giữ. Lớp ngoài cùng là một cơ cấu quản lý hai cấp khéo léo được thiết kế bởi Jean-Louis. Một công ty chuyên quản lý quyền sở hữu, một thực thể gia đình tên Emile Hermès SARL, nơi thiết lập ngân sách và phê duyệt các khoản vay. Một công ty khác, Hermès International giám sát công việc hàng ngày của công ty.

Hiện có 4/11 thành viên ngoài gia đình giữ ghế trong hội đồng quản trị nhưng mô hình này hoạt động khá hữu hiệu. Cơ cấu mới giúp Hermès bán 4% cổ phần cho công chúng năm 1993, cho phép các thế hệ trẻ của gia đình thanh lý cổ phần trong công ty mà gia tộc vẫn giữ quyền kiểm soát. Jean-Louis Dumas mở rộng các mảng kinh doanh sang thời trang nam giới, đồ nội thất và chén dĩa.

Từ năm 1989 đến năm 2006, doanh số bán hàng đã tăng gấp bốn lần và đạt mức 1,9 tỷ USD. Tuy nhiên, nó không phải là một kế hoạch hoàn hảo. Bernard Arnault, tỷ phú sở hữu công ty hàng xa xỉ lớn nhất thế giới LVMH (Moët Hennessy Louis Vuitton) đã để mắt tới sự tăng trưởng này. Hermès phù hợp với danh mục đầu tư ông muốn thâu tóm, như Dior và Fendi.

Hermès: Từ xưởng thủ công nhỏ tới biểu tượng quý tộc ngành thời trang (2)

Vì vậy, vào năm 2002 Arnault bắt đầu tích lũy cổ phiếu, bằng cách sử dụng một chiến lược giao dịch hoán đổi để kiểm soát các vị trí mà không cần phải tiết lộ danh tính. Trong năm 2010, Arnault mới công khai tiết lộ rằng ông kiểm soát 17% của Hermès. Với lượng cổ phiếu chỉ còn 30%, ai cũng nghĩ ba nhóm còn lại của gia đình Hermès sẽ bán công ty lấy tiền.

Nhưng động thái của Arnault không đi đúng mục đích mà ngược lại, tạo ra bước ngoặt cuối cùng của Hermès. Thay vì rút ra, gia đình Hermès ở lại và dần dần củng cố quyền lực.

Gia đình Hermès đã bước một bước táo bạo trong năm 2011. 51 hậu duệ của ngài Thierry Hermès đã gộp cổ phần trị giá 16 tỷ đô của mình vào nhóm H51. Nhóm này đang giữ 50,2% cổ phần của công ty và đồng tình không bán bất cứ cổ phiếu nào trong hai thập kỷ tiếp theo. Hai cổ đông lớn khác, các thành viên thuộc thế hệ thứ năm của gia đình là Bertrand Puech (78t) và Nicolas Puech (71t) không góp cổ phần vào nhóm này nhưng đồng tình chống lại LVMH. Hai vị này cũng đồng ý sẽ ưu tiên để lại cổ phần cho các thành viên khác trong gia đình nếu họ quyết định bán.

LVMH và Hermès tiếp tục chiến đấu tại tòa. Hermès cáo buộc LVMH giao dịch nội gián; LVMH tuyên bố lời buộc tội sai. "Đây là trận chiến của thế hệ chúng tôi", Axel Dumas nói, "Hermès không phải là để bán, và chúng tôi sẽ chiến đấu để giành quyền độc lập".

Sự đoàn kết của gia đình đã đem lại nhiều lợi ích cho Hermès. Bị ràng buộc không bán cổ phần trong hai thập kỷ đồng nghĩa với việc mỗi thành viên trong gia đình phải có trách nhiệm hơn với việc kinh doanh, kể cả với những người như Nicolas Puech - đang sở hữu cổ phần trị giá 2,1 tỷ đô la (lợi tức 20 triệu đô la hàng năm) - đủ để ông thong thả tận hưởng cuộc sống ở các điền trang sang trọng suốt đời.

Dumas nói thêm về kế hoạch tiếp theo cho công ty. Hermès hiện có 318 cửa hàng trên khắp năm châu, và mới mở thêm cửa hàng tại Thượng Hải trong tháng rồi. Dumas cũng cải tạo các cửa hàng ở Indonesia, Đài Loan và London, tiếp đến là tập trung cho thị trường Mỹ với bảy cửa hàng mới. Dumas cũng khẳng định Hermès sẽ không chịu thua LVMH trong các cuộc chiến pháp lý. "Gia đình tôi rất mạnh mẽ và quyết tâm", ông khẳng định.

Ông cũng không cố thuyết phục con cái đi theo sự nghiệp gia đình. Tuy nhiên, đã có một số thành viên của thế hệ thứ bảy được dự kiến sẽ tiếp tục truyền thống thủ công đỉnh cao và nghệ thuật bán hàng phù thủy của Hermès."

>> Sony: Đế chế thống trị thành kẻ suy tàn

Theo Phúc An

Doanh nhân Sài gòn

Cách Alibaba 'hô biến' nông dân Trung Quốc thành triệu phú

Cách xa phố Wall hàng ngàn dặm, nơi tập đoàn Alibaba chuẩn bị cho vụ IPO đình đám, các nông dân Trung Quốc đang đổi đời từ máy kéo thành xế hộp hạng sang, nhờ vận may được gã khổng lồ Internet này ban phát.

Cách Alibaba hô biến nông dân Trung Quốc thành triệu phú
Nội dung nổi bật:
 
Doanh thu thị trường thương mại điện tử Trung Quốc năm 2012 là 210 tỷ USD và được dự đoán là sẽ vượt qua Mỹ để trở thành thị trường lớn nhất thế giới vào cuối năm nay. 
 
- Là ông vua thống trị thị trường thương mại điện tử nước này, Alibaba đã giúp hàng ngàn nông dân Trung Quốc đổi đời bằng cách kết nối họ với người tiêu dùng khắp nơi ở Trung Quốc và trên thế giới. 
 
- Baigou, một tỉnh phía bắc của Hà Bắc, là một trong những địa điểm lớn nhất trong số khoảng 20 "làng Taobao" ở Trung Quốc - những vùng nông thôn mà cáchàng của Taobao đang thuê hơn 10% dân cư địa phương và thu được hơn 10 triệu Nhân dân tệ mỗi năm.
 
-  Những ngôi làng Taobao sản xuất đủ mặt hàng trong các xưởng sản xuất quy mô nhỏ. Thay vì trước đây nông dân Trung Quốc thường đổ xô đến các đô thị lớn để kiếm nguồn thu nhập tốt hơn, thì nay, họ có thể ở lại làng và kết nối với những người mua hàng qua Internet.
 

 
Cách xa phố Wall hàng ngàn dặm, nơi tập đoàn Alibaba chuẩn bị cho vụ IPO đình đám, các nông dân Trung Quốc đang đổi đời từ máy kéo thành xế hộp hạng sang, nhờ vận may được gã khổng lồ Internet này ban phát.
 
Những ngôi làng Taobao
 
"Tất cả công việc kinh doanh của chúng tôi giờ đây đều tiến hành trên Internet", ông Huang Jianqiao, một nông dân lớn lên ở vùng nông thôn nghèo khó, nhưng nay đang chễm chệ đi làm trong xế hộp hiệu Jaguar đen, vừa cùng vợ bay đến Paris nghỉ dưỡng. Ông Huang kiếm 30 triệu Nhân dân tệ (4,8 triệu USD) mỗi năm từ một cửa hàng bán túi xách online.
 
Ông Huang là một trong số hàng ngàn nông dân Trung Quốc đang đổi đời bằng cách sử dụng những nền tảng bán lẻ trực tuyến được cung cấp bởi Alibaba.
 
Alibaba là ông vua thống trị thị trường thương mại điện tử của Trung Quốc. Theo các nhà phân tích, một khi các nhà đầu tư hứng lên, giá trị công ty này trong cuộc IPO sắp tới trên sàn chứng khoán Mỹ có thể bị đẩy lên đến... 200 tỷ USD.
 
Ra khỏi căn phòng sang chảnh ở New York để đến một xứ sở khác, nơi đây là kho hàng của ông Huang ở Baigou, với những thùng các-tông chất cao như núi đang chờ giao hàng đến các thành phố và làng mạc trên khắp Trung Quốc.
 
Một trong những tài sản chính của Alibaba là trang web thương mại điện tử Taobao. Trang này cho phép ông Huang chào bán những chiếc túi mà doanh nghiệp ông sản xuất đến hàng triệu khách hàng tiềm năng ở Trung Quốc.
 
"Đó là một nền tảng khởi nghiệp phù hợp với rất nhiều người như chúng tôi mà dường như không có bất cứ rào cản nào", ông Huang cho hay.
 
Baigou, một tỉnh lị phía bắc của Hà Bắc, là một trong những địa điểm lớn nhất trong số khoảng 20 "làng Taobao" ở Trung Quốc - những khu vực ở nông thôn mà các cửa hàng của Taobao đangthuê hơn 10% dân cư địa phương và thu được hơn 10 triệu Nhân dân tệ mỗi năm.
 
 
Ai cũng có thể làm ông chủ
 
"Ngày trước tôi nghèo lắm, chẳng có nhà hay xe hơi thế này đâu. Nhưng giờ thì tôi có đủ khả năng rồi, tôi còn đưa vợ đi du lịch nước ngoài nữa đấy", ông Huang cho biết thêm, "Đây là cuộc sống mà Taobao đã mang lại cho tôi"".
 
Kho hàng của Huang luôn huyên náo nhộn nhịp với những công nhân trẻ đang đóng gói ba lô và ví da vào túi nilon, chất đống trên sàn nhà trước khi được nhân viên giao hàng mang đi.
 
Cách Alibaba 'hô biến' nông dân Trung Quốc thành triệu phú (1)
Ông Huang Jianqiao ở kho hàng của mình.
 
Những ngôi làng Taobao sản xuất đủ mặt hàng - từ áo phông T-shirt đến giỏ đan bằng gai - trong các xưởng sản xuất quy mô nhỏ. Thay vì trước đây nông dân Trung Quốc thường đổ xô đến các đô thị lớn để kiếm nguồn thu nhập tốt hơn, thì nay, họ có thể ở lại làng và kết nối với những người mua hàng trực tuyến qua Internet.
 
"Chỗ này về nhà tôi chỉ mất có 10 phút", Li Dan, một nhân viên kho 22 tuổi cho hay. Cô đang đảm nhiệm việc nhận đơn đặt hàng và dán địa chỉ lên bao bì , nhưng cô hi vọng sẽ mở một cửa hàng riêng của mình. 
 
Sau một thời gian bạn có thể tự kinh doanh riêng. Một số người làm việc ở đây nhưng có doanh nghiệp ngay bên cạnh, chỉ cần mua một cái laptop là họ có thể chăm chút cho cửa hàng trực tuyến của mình trong thời gian rảnh rỗi.
 
Mùi da thuộc lan tỏa khắp nhà máy này, nơi hàng chục công nhân đang may vá hàng đống túi xách màu phấn hồng không nhãn hiệu, ví in hoa và ba lô Union Jack, cùng một lô móc khóa và khóa kéo khác.
 
"Chúng tôi lấy cảm hứng từ Chanel", ông Huang nói khi lấy ra một túi xắc đỏ nhỏ xinh. "Chúng tôi có thể không có những nhà thiết kế tầm cỡ, nhưng chúng tôi biết học theo các công ty khác".
 
(Xem thêm: Đi tắt đón đầu ở Trung Quốc: Nhái kiến trúc)
 
Những cuộc đổi đời
 
Năm 1999, Jack Ma, khi đó là giáo viên dạy tiếng Anh, đã thành lập Alibaba như một nền tảng hỗ trợ các nhà sản xuất Trung Quốc kết nối với những người mua nước ngoài. Nhưng khi khai trương Taobao năm 2003, ngay lập tức hệ thống này đã khai thác lượng lớn người tiêu dùng ngay tại Trung Quốc thông qua Internet.
 
Sở hữu 1/6 dân số thế giới, thị trường thương mại điện tử Trung Quốc năm 2012 thu về khoảng 210 tỷ USD (theo công ty tư vấn McKinsey) và được dự đoán là sẽ 'vượt mặt' Mỹ để trở thành thị trường lớn nhất thế giới vào cuối năm nay.
 
Cách cơ sở của ông Huang không xa là cơ sở làm túi xách khác của bạn ông Huang - ông Guo Shaohua, cũng kiếm tiền nhờ Alibaba. Thị trường xuất khẩu của cơ sở này là Azerbaijan và Ukraine.
 
"Tôi bắt đầu sử dụng Alibaba từ năm 2011", Guo, người đang lái chiếc BMW kể lại. "Nó đã thay đổi cuộc sống của nhiều người trẻ nơi đây".
 
Ông Guo kỳ vọng sẽ đạt được doanh thu hàng năm là 100 triệu Nhân dân tệ trong vòng 3 năm. "Nhờ kinh doanh qua Internet chúng tôi có thể ở nhà làm việc cùng gia đình, chúng tôi còn kiếm được nhiều tiền hơn so với việc làm việc ở những thành phố khác".
 
"Tôi nghĩ rằng đây là một thành quả lớn mà Taobao mang lại. Bên cạnh đời sống vật chất, tôi có nhiều ý tưởng và mục tiêu sống hơn. Giờ đây, tôi đã dám vạch kế hoạch cho cuộc đời của chính mình".
 
 
Kỳ Anh

Theo Trí Thức Trẻ/BusinessInsider/AFP

Dân Mỹ "giấu tiền dưới gối" trên 10.000 tỉ USD

Sau suy thoái, tầng lớp trung lưu Mỹ giảm chi tiêu tiêu dùng và quyết liệt dành dụm để nghỉ hưu và đóng tiền học đại học cho con cái - Ảnh: lassensloves.com

Sau suy thoái, tầng lớp trung lưu Mỹ giảm chi tiêu tiêu dùng và quyết liệt dành dụm để nghỉ hưu và đóng tiền học đại học cho con cái - Ảnh: lassensloves.com

Người Mỹ đang có khoảng 10,8 ngàn tỉ USD dưới hình thức tiền mặt, tài khoản ngân hàng và các quỹ tiền tệ dường như không sinh lãi.

MarketWatch trích dẫn một nguồn dữ liệu từ các tài khoản tài chính cho thấy người Mỹ đang có khoảng 10,8 ngàn tỉ USD dưới hình thức tiền mặt, tài khoản ngân hàng và các quỹ thị trường tiền tệ dường như không sinh lãi.
 
Về bản chất, số tiền 10,8 ngàn tỉ USD đang được "giấu dưới gối" và con số đó đại diện cho sự thất bại của chính sách Fed.
 
Khi suy thoái bắt đầu cách đây sáu năm, Fed đã cố gắng khuyến khích người dân đưa tiền vào dòng chảy trong nền kinh tế.
 
Đó là lý do tại sao Fed đến nay vẫn giữ lãi suất thấp và đang mua lại hàng ngàn tỉ USD giá trị của các chứng khoán tương đối an toàn, với hi vọng thúc đẩy người dân mạnh dạn chấp nhận thêm một chút rủi ro nữa.
 
Nhưng nhiều người dân Mỹ không muốn như vậy. Họ vẫn sợ và chọn gửi gắm phần lớn tiền để dành vào các tài sản được bảo đảm, như tài khoản ngân hàng được bảo hiểm FDIC, hoặc đưa tiền vào các quỹ thị trường tiền tệ bảo đảm hoàn lại tiền.
 
Cuối cùng thì nền kinh tế vẫn không thể thật sự tăng trưởng nếu chẳng ai sẵn lòng đánh cược với tương lai.
 
Mục đích trong chính sách Fed là thúc đẩy người dân hoặc là chi tiêu nhiều hơn, hoặc lấy tiền của chính họ cho những người khác vay để đồng tiền hoạt động hiệu quả hơn. Cả hai cách đều khiến tổng cầu tăng, thúc đẩy nền kinh tế và tạo ra nhiều việc làm.
 
Fed có thể chỉ ra một số thành công: chi tiêu tiêu dùng và đầu tư kinh doanh đã tăng trở lại, nhưng cả hai dữ liệu đó đều yếu hơn mức dự báo.
 
Phần lớn người Mỹ vẫn đều đều thực hiện lòng yêu nước bằng cách chi tiêu gần hết số tiền họ kiếm được. Fed gần đây tung ra một báo cáo cho thấy chỉ có chưa đầy 1/3 các hộ gia đình Mỹ có thể để dành tiền sau khi trả hết các hóa đơn hàng tháng. Hơn 60% cho biết họ không thể chi trả những khoản khẩn cấp 400 USD nếu không đi vay hoặc cầm đồ.
 
Chỉ một số ít là có thể tiết kiệm được khoản kha khá - tổng cộng hơn 1,2 nghìn tỉ USD/năm.
 
Theo dữ liệu tài khoản tài chính của Fed, các khoản tiết kiệm cá nhân sau khi kết thúc khủng hoảng chiếm trung bình 10% thu nhập sau thuế và bảo hiểm - tăng từ mức 7% trước suy thoái. Điều đó có nghĩa tầng lớp người Mỹ giàu có và trung lưu đang tiết kiệm nhiều hơn mức họ đã làm được trước suy thoái là 400 tỉ USD/năm.
 
Khoản dôi ra 400 tỉ USD sẽ đem lại lợi ích cho nền kinh tế, với điều kiện được đem ra tiêu xài hay đầu tư. Nhưng những người Mỹ có thu nhập cao lại không muốn chi tiêu theo kiểu họ đã làm trước đây.
 
Tầng lớp trung lưu đang quyết liệt để dành tiền học đại học cho con cái và dành nghỉ hưu. Trong khi những người giàu thực thụ thì đã có tất cả mọi thứ họ muốn, nên không chi tiêu thêm và để dành nhiều hơn, mua cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản hoặc làm dày thêm số dư trong tài khoản ngân hàng.
 
Về lý thuyết, số tiền nằm trong các ngân hàng có thể chảy vào nền kinh tế khi ngân hàng tung ra các gói vay. Nhưng thực tế các doanh nghiệp vay tiền để làm ăn cũng không đáng là bao, chỉ tăng 160 tỉ USD so với năm 2013.
 
Dù sao thì doanh nghiệp không dựa vào các khoản vay ngân hàng, vì dòng tiền nội bộ của họ dư sức để tài trợ cho các khoản đầu tư vào cấu trúc, thiết bị mới hay quyền sở hữu trí tuệ. Từ khi suy thoái kết thúc, các quỹ nội bộ của các doanh nghiệp đã vượt qua mức chi tiêu vốn hằng quý.
 
Khi các công ty đi vay, họ sẽ sử dụng tiền hoa lợi để mua lại cổ phần hay mua toàn bộ công ty, chứ không phải đưa tiền vào cổ phiếu trong tài sản quốc gia. Từ khi suy thoái kết thúc, các tập đoàn cũng chi nhiều gấp đôi để mua cổ phiếu của chính họ và của các công ty đã được mua lại lúc họ đi vay từ các ngân hàng.
 
Trong nhiều năm qua, các tập đoàn đã mua khá nhiều cổ phiếu và không huy động tiền ròng trong thị trường chứng khoán từ các hộ gia đình. Thực tế các hộ gia đình mới là những người vay tiền từ các tập đoàn, khoảng 450 tỉ USD/năm.
 
Vì vậy, dù các hộ gia đình Mỹ đang tiết kiệm được một số tiền kha khá thì con số thật sự chảy vào nền kinh tế chẳng đáng là bao. Có đến 10,8 ngàn tỉ lý do để kết luận rằng Fed hoàn toàn "bất lực" khi không thuyết phục được người Mỹ chấp nhận nhiều rủi ro hơn.
 
 
Theo Chu Luân

Tuổi Trẻ

Dẹp nạn “một người làm quan, cả họ được nhờ”

Bố trí chức danh bí thư cấp ủy, chủ tịch UBND, chánh án TAND, viện trưởng VKSND và cán bộ cấp trưởng các ngành thanh tra, công an, tài chính, thuế, hải quan không phải là người địa phương, đó là tinh thần Chỉ thị 36 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

(Minh họa: Ngọc Diệp)
(Minh họa: Ngọc Diệp)

 

Sự quyết liệt trong công tác cán bộ, hạn chế tối đa nạn ô dù, thân quen, bè phái, dòng họ bà con trong bộ máy lãnh đạo các địa phương đã rất được sự đồng thuận và ủng hộ của người dân.

 

Từ xưa, người Việt có câu “một người làm quan cả họ được nhờ”. Xét khía cạnh nào đó, câu này chứa đựng quan điểm tiêu cực. Và hiện nay, nó được bộc lộ rõ ràng, có khi còn hơn cả cái thời sinh ra câu này.

 

“Cả họ được nhờ” có khi là cho chác ít vật chất, có khi mượn oai dòng họ có người làm quan để thị uy với kẻ khác, nhưng cái được nhờ nhất chính là được chia chác quyền lực. Một ông quan đầu tỉnh, đầu ngành là người địa phương, thì nảy sinh khả năng ưu tiên các vị trí cán bộ chủ chốt cho người thân họ hàng. “Gia đình trị” tiến tới “dòng họ trị” là để bảo vệ quyền lực cho cá nhân từng người. Nhóm lợi ích bản thân là một bè phái, cộng thêm quan hệ dòng tộc cho nên sự liên kết rất chặt. Mối quan hệ có tính họ hàng là động cơ để bảo vệ nhau trong những trường hợp có người vi phạm pháp luật hoặc sai trái.

 

Một cá nhân muốn tham nhũng còn sợ hãi bị phát hiện, nhưng một bè phái cùng tham nhũng và che chắn cho nhau thì độ an toàn cao hơn. Có lẽ, tham nhũng nhiều nhưng phát hiện ít là do sự che chắn kỹ lưỡng này.

 

Mối quan hệ dòng họ can thiệp rất nhiều vào công tác tổ chức, chọn người thân cho quyền lợi của riêng tư hơn chọn người cho công việc chung. Ở đây không phải kẻ bề dưới “thấy người sang bắt quàng làm họ”, mà chính kẻ bề trên muốn có một hàng rào nhân sự dễ sai khiến và thực thi công việc bằng thái độ tuân phục. Tuân phục một ông quan và tuân phục một ông chú, ông bác, bà dì… trong dòng họ.

 

Vì thế, ngay trong cơ quan hành chính, có thể thấy rõ những biểu hiện quan hệ dòng họ trong cách xưng hô và thái độ ứng xử. Sự tuân phục không phải là mối quan hệ trên dưới trong một tổ chức, trong một cơ quan, đơn vị, mà như trong một gia đình. Cấp dưới xưng chú, bác, cấp trên đối đáp lại bằng mày, tao.

 

Nếu như thực hiện một khảo sát khách quan tất cả các địa phương, ngành về công tác cán bộ, thì có thể cho ra kết quả về nhân sự theo mô hình “cả họ được nhờ”. Không chừng đây là đề tài khoa học nghiên cứu về công tác tổ chức cán bộ trong một giai đoạn của đất nước.

 

Trước một tập quán mang tính “thành trì” như vậy, Chỉ thị 36 là đòn công phá làm sụp đổ cái thành trì ấy. Một ông quan đầu tỉnh, đầu ngành không phải là người địa phương, thì sẽ hạn chế tối đa sự can thiệp dòng họ trong công tác nhân sự.

 

Nhưng chỉ hạn chế thôi. Nạn ô dù, bè phái có thể bị ngăn chặn ban đầu, nhưng theo thời gian, với những cán bộ lãnh đạo thiếu phẩm chất, vẫn tạo ra bè phái và “dòng họ” theo cách riêng của mình. Cho nên, chọn cán bộ lãnh đạo có tầm trí tuệ và phẩm chất đạo đức cao vẫn là yếu tố quyết định.

 

Lê Chân Nhân (dân trí)

Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái?

Israel là một nước nhỏ ở Trung Đông có điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt, có một lịch sử đau thương, nhưng đã vươn mình lên để trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh nhất Thế giới.

 

 

Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái? (6)Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái?
 
Một đất nước không có "rừng vàng, biển bạc"

Đất nước Israel được hình thành từ tập hợp của hàng vạn người Do Thái lưu vong trên khắp Thế giới. Một đất nước bị cô lập, bị coi là kẻ thù số một của nhiều nước Ả Rập không chỉ vì lý do chính trị mà còn từ những thù hận sâu xa của lịch sử.

Dân tộc Do Thái buộc phải sống lưu vong phân tán, lang thang suốt 2000 năm qua trên khắp Thế giới, đi tới đâu cũng bị xa lánh hoặc hắt hủi, xua đuổi, tước đoạt, thậm chí hãm hại, tàn sát vô cùng dã man...

Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái? (1)
Israel nằm "kẹp" giữa các quốc gia Ả Rập

Israel, một đất nước Do Thái nhỏ bé, phải hứng chịu điều kiện tự nhiên vô cùng khắc nghiệt, 70% diện tích lãnh thổ là sa mạc, còn lại là đồi núi đá trọc, trong khi khí hậu nơi đây cực kỳ khô hạn. Một đất nước không hề có "rừng vàng, biển bạc" nhưng lại có một nền kinh tế phát triển, hùng mạnh nhất Thế giới.

Theo số liệu của IMF năm 2013, thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua của Israel đạt 37.000USD, GDP đạt khoảng 291 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng đạt 3,33%. 

Israel có diện tích rất nhỏ, trên 20.000 km2, chỉ bằng 1/16 diện tích của Việt Nam. Tuy nhiên Israel lại được mệnh danh là “thung lũng Silicon” của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ nước. Chỉ có 1,7% dân số làm nông nghiệp nhưng mỗi năm Israel xuất khẩu trên dưới 3,5 tỷ USD nông sản, là một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu Thế giới.

Người Israel luôn bày tỏ sự tự hào khi nói về đất nước mình rằng: Tuy có khí hậu và địa lý vô cùng khắc nghiệt, nhưng chúng tôi vẫn có nền nông nghiệp tiên tiến nhất Thế giới. Điều gì đã giúp cho đất nước này tạo nên được một kỳ tích như vậy?

Trong một lần phỏng vấn và được đặt câu hỏi như vậy, ông Ali Yhia - một quan chức của Bộ Ngoại giao Israel cho biết: “Bí quyết để Israel phát triển là trí tuệ cộng với sự đoàn kết. Israel thật sự coi trọng đầu tư phát triển giáo dục đào tạo và phát triển nghiên cứu khoa học công nghệ”.

Xây dựng đất nước từ nông nghiệp

Trong phát triển nông nghiệp, họ xây dựng những chính sách đồng bộ, gắn kết chặt chẽ nghiên cứu với triển khai ứng dụng thực tế. Từ cấp lãnh đạo đến doanh nghiệp đều có tầm nhìn và tư duy chiến lược toàn cầu. Ngay cả các chủ trang trại đôi khi cũng chính là các nhà khoa học. 

Vì điều kiện tự nhiên khắc nghiệt là thế, nên nước ngọt ở Israel được coi như "vàng trắng" và được quản lý một cách chặt chẽ hơn bất kỳ nơi nào trên Thế giới. Chính phủ nước này xây dựng riêng một bộ luật để đo lường mức tiêu thụ nước, kiểm soát việc khai thác nước ngầm, ngăn chặn ô nhiễm nước. Công nghệ xử lý nước của Israel thuộc hàng hiện đại nhất thế giới với tỉ lệ tái chế tới 75%.

Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái? (2)
Hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Không có sự phân biệt, dù ở những thành phố lớn hay những vùng nông thôn, hoang mạc, hệ thống tưới nước hoàn hảo đến mức gần như không để bỏ phí một giọt nước nào. 

Tất cả cây trồng ở đây đều được ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt. Chất dinh dưỡng theo các ống dẫn nước tới từng gốc cây, gốc rau và được tưới bón nhỏ giọt tùy theo từng loại cây củ quả bởi một phần mềm điều khiển tự động sau khi đã nạp đủ thông tin về độ ẩm không khí, đất đai, tuổi và nhu cầu tăng trưởng của từng loại cây.
 
 
Không chỉ cây trồng, toàn bộ cây cối, thảm cỏ, vười hoa tại Israel cũng đều được tưới theo công nghệ nhỏ giọt. Trẻ em Israel được dạy tiết kiệm nước từ bé, 75% nước thải sinh hoạt được tái tạo sử dụng lại, nước qua hệ thống lọc trở thành nước tinh khiết có thể uống được ngay.

Ngoài trồng trọt, nền nông nghiệp Israel nổi tiếng với chăn nuôi bò sữa cho năng suất cao nhất Thế giới, đạt 12.000 lít/con/năm, trong khi đó ở New Zealand là 4.000 lít, ở Hà Lan 8.000 lít và ở Mỹ là 9.000 lít. Chất lượng sữa cũng vào loại tốt nhất, lượng đạm và lượng mỡ cao hơn hẳn các loại sữa ở các quốc gia khác.

Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái? (3)
Công nghệ nuôi bò lấy sữa của Israel

Nếu có dịp đến Israel, hãy tới thăm thung lũng Arava - niềm tự hào của mọi người dân Israel, nơi mà vị Tổng thống đương nhiệm của Israel, Shimon Peres đã phải thốt lên khi đến thăm nơi này vào năm 2009: “Hãy đến để thấy rằng, chính con người cũng có thể tạo nên vườn địa đàng". 

Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái? (4)
Trang trại tại sa mạc Arava

Arava là một trong những vùng đất khô cằn nhất Thế giới, nằm ở khu vực khô hạn nhất của hoang mạc Negev. Nhiệt độ mùa hè bình quân lên tới 40 độ C và ban đêm là 25 độ C. Còn mùa đông lại có nhiệt độ ban ngày là 21 độ và ban đêm chỉ trên dưới 3 độ C.

Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái? (5)
Nông dân Arava đang kiểm tra sản phẩm

Thiên nhiên khắc nghiệt, nhưng có đến 90% dân số tại Arava là những người làm nông nghiệp. Trải dài khắp thung lũng là những cánh đồng ô liu, cam, lựu, vải thiều, nho, chuối…  xanh tươi mơn mởn, những khu nhà kính ngập tràn hoa, rau sạch, cà chua bi, cà chua nhót, dưa chuột, cà tím… Tất cả đều được áp dụng công nghệ hiện đại nhất để đảm bảo chất lượng tốt nhất cho sản phẩm.

Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái? (6)
Nông sản tại Desertech, triển lãm nông nghiệp được tổ chức hàng năm tại Arava

Không chỉ sản xuất lương thực cho riêng mình, người nông dân Arava còn đem sản phẩm của mình xuất khẩu ra khắp Thế giới. Không thể ngờ rằng, một trong những nơi khô cằn nhất thế giới lại chiếm tới trên 60% tổng sản lượng rau và 10% tổng sản lượng hoa xuất khẩu của Israel.

Bài học cho đất nước Việt Nam

Câu chuyện ở đất nước Israel là như thế, từ số không xây dựng thành một cường quốc có nền nông nghiệp phát triển nhất Thế giới. Nếu mang những điều kiện tự nhiên, địa lý thuận lợi của Việt Nam, đặt vào vị trí của Israel thì không biết họ còn phát triển đến mức nào nữa?

Dưới đây là bảng so sánh thú vị giữa 2 nước được lập bởi một chuyên gia người Việt Nam, sau chuyến công tác của người này tới đất nước Israel:

Chúng ta học được gì từ những người nông dân Do Thái? (7)
 
Việt Nam mang danh là một nước có truyền thống nông nghiệp, nhưng công nghệ sản xuất, chế biến và bảo quản nông sản gần như là không có gì, người nông dân vẫn phải tự mình xoay sở. Các máy móc đơn giản trong sản xuất nông nghiệp và bảo quản nông nghiệp hầu như phải nhập từ nước ngoài. 

Người nông dân dường như phải tự tạo cơ hội cho riêng mình, ví như ông Nguyễn Văn Xự ( An Giang ), Đức Trọng (Lâm Đồng), Bùi Sĩ Tới (Yên Bái)... tự sáng chế ra máy móc để phục vụ sản xuất cho bà con nông dân.

Có nên chăng Việt Nam nên nhìn vào đất nước Israel để học tập và thay đổi? So với đất nước họ, Việt Nam hiện đang có trong tay rất nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, nguồn nhân lực, và là một đất nước có truyền thống nông nghiệp lâu đời.

Một nền nông nghiệp vững bền sẽ là một nền móng vững chắc để xây dựng một nền kinh tế phát triển. Trước khi nghĩ đến việc tính xem sẽ xây nhà cao bao nhiêu tầng, mỗi năm cao thêm được mấy tầng thì việc cần làm là tạo nên một nền móng thật vững chắc.

Nền tảng công nghệ tuy không có, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể học hỏi từ các nước phát triển. Sao chép thành công của người khác để đem đến thành công cho riêng mình là phương thức đã được Thế giới áp dụng từ lâu và luôn hiệu quả trong mọi lĩnh vực. 


Vương Nguyên   

Theo Trí Thức Trẻ

Chuyên mục phụ