Doanh nhân kỳ này
Sự phản bội của phố Wall
| Sự phản bội của phố Wall |
|
|
| 03/08/2009 | |
|
Trang 2 / 2
Tại sao họ lại làm như vậy? Bởi vì Merrill Lynch kiếm được hàng trăm triệu đôla từ các công ty mà họ thuyết phục các nhà đầu tư nên mua. Bởi vì các chuyên gia phân tích của hãng này được thưởng tới hàng triệu đôla khi họ giúp các công ty đó bán được cổ phiếu trong khi họ biết rằng các cổ phiếu này không đáng giá một xu. Và có thể bởi vì một điều nữa không kém phần quan trọng, đó là những người công khai bất đồng với ý kiến của công ty chắc chắn sẽ phải lãnh chịu những hậu quả khôn lường. Mối quan hệ giữa Merrill Lynch với Enron là một ví dụ điển hình. Vào tháng 4 năm 1998, hai nhà điều hành của Merrill đã gửi cấp tốc một thông báo tới ngài chủ tịch của hãng, trong đó họ than phiền về một nhà phân tích của Merrill đã không có tinh thần hợp tác. Họ cho biết nhà phân tích này đã mắc một lỗi nghiêm trọng khi đưa ra đánh giá có vẻ “nhạt nhẽo” về Enron và điều này làm cho phía Enron trở nên không có thiện cảm với nhà phân tích này nữa. Họ kết luận rằng điều này đã dẫn tới hậu quả là Merrill Lynch đã để xổng mất một thương vụ ngân hàng đầu tư có lợi với Enron. Không ngạc nhiên gì, ngay mùa hè năm đó, Merrill đã cho thay nhà phân tích thiếu tinh thần hợp tác đó bằng một nhà phân tích khác. Tay này đã mau mắn nâng hạng đánh giá Enron lên thành loại cổ phiếu nên mua. Và kết quả là ngay đầu năm 1999, Enron đã đền ơn cho Merrill bằng một thương vụ ngân hàng mang lại cho hãng này một khoản phí là 45 triệu đôla. Các tay bào chữa cho Merrill Lynch lập luận rằng Enron chỉ là trường hợp duy nhất và những lá thư điện tử của những nhân viên phân tích mà ngài Spitzer phát hiện ra được chỉ là “những con sâu bỏ rầu nồi canh”. Nhưng những lập luận này không hề đúng. Các công ty đó chỉ là một số trong hàng tá các công ty mà Merrill đã từng đánh bóng. Các công ty này đã kiếm được hàng triệu đô-la từ các nhà đầu tư khi cổ phiếu của họ tăng giá. Bộ phận ngân hàng đầu tư của Merrill đã thu về được 115 triệu đôla tiền phí cho 52 giao dịch ngân hàng đầu tư từ các công ty mà họ đã thổi phồng lên. Còn các nhà phân tích đưa ra những đánh giá dối trá đó cũng kiếm chác được trong các phi vụ đó - với các khoản tiền thưởng kếch xù gắn với doanh số bán cổ phiếu. Trong khi đó, các nhà đầu tư tin tưởng vào các đánh giá đó đã phải rơi vào cảnh khốn cùng. Các tay bào chữa của phố Wall cũng cho rằng Merrill Lynch là trường hợp tệ nhất và các hãng khác không đến nỗi tồi tệ như vậy. Thế nhưng, lập luận này cũng sai nốt. Bản thân Tổng chưởng lý Spitzer đã phải cảnh báo rằng nếu các hành động của Merrill mà đã hèn hạ đến như vậy, thì hành động của các hãng môi giới lớn khác chắc chắn sẽ còn tồi tệ hơn. Thực tế, các điều tra mới về Salomon Smith Barney đã làm cho các hành vi lừa dối của Merrill còn chưa là gì khi so sánh với hãng này. Từ năm 1997 cho tới năm 2002, Salomon Smith Barney, một đơn vị của Citigroup, đã thu được số tiền 809 triệu đôla từ dịch vụ bảo lãnh phát hành cho các công ty trong mảng viễn thông, cộng thêm 178 triệu đôla từ dịch vụ tư vấn sáp nhập. Tổng cộng là gần một tỷ đôla từ tiền phí - số tiền cao hơn so với bất kỳ hãng môi giới nào khác ở phố Wall có thể thu được. Cùng thời gian đó, Salomon và siêu sao viễn thông Jack Grubman đã tung khắp phố Wall các khuyến nghị tốt đẹp về các công ty vốn là nguồn gốc của khoản tiền từ trên trời rơi xuống trị giá gần một tỷ đôla trên: AT&T, Verizon, WorldCom, Global Crossing, Level 3 Communications, Qwest Communications và nhiều công ty khác nữa. Có thể dự đoán trước được, các nhà đầu tư đều tin tưởng Salomon đã bị đánh cho tơi bời khi mất tới 77,8% số tiền của mình với AT&T, 92,6% với Qwest, 99% với WorldCom, 97% với Level 3 Communications và tới 99,9% với Global Crossing. Tổng cộng, có tới 14 công ty về viễn thông mà Grubman và Salomon thuyết phục các nhà đầu tư mua cổ phiếu đã bị vỡ nợ hoặc đệ đơn xin phá sản. Nhìn nơi đâu ở phố Wall cũng thấy những cảnh tượng tương tự xảy ra. Joseph Wolf tại UBS Warburg đã đưa ra khuyến nghị nên mua cổ phiếu của Optical Communications Products tới 10 lần trong khoảng thời gian từ tháng 11/2000 tới tháng 7/2002, để rồi cổ phiếu này giảm từ 18,88 đôla xuống còn có 1,19 đôla mỗi cổ phiếu. Linda Mutschler tại Merrill Lynch đã đưa ra đánh giá nên mua đối với cổ phiếu của Sprint PCS vào tháng 7/2001, lúc này cổ phiếu đang ở mức giá 24,8 đôla; sau đó cô ta nâng mức đánh giá cổ phiếu này lên thành nên mua mạnh vào đầu năm 2002, ngay trước khi cổ phiếu này sụt giảm tới 50%. James Parmelee, nhà phân tích của Credit Suisse đã đưa ra 11 đánh giá nên mua mạnh đối với cổ phiếu của Corvis Corporation (một trong các khách hàng sử dụng dịch vụ bảo lãnh phát hành của hãng anh ta) trong khoảng thời gian từ tháng 11/2000 tới tháng 10/2001, trong khi giá của cổ phiếu này giảm từ 26,69 đôla xuống còn có 1,77 đôla cho mỗi cổ phiếu, tức là giảm 93,4% giá trị chỉ trong vòng chưa đầy một năm. Đó là trò lừa đảo hay nhất mọi thời đại. Ngay cả băng đảng tội phạm Mafia cũng còn phải tái mặt vì ghen tị với những thủ đoạn đó. (Trích cuốn sách "Kiếm tiền từ thị trường chứng khoán khủng hoảng" do Công ty Alpha Books phát hành) |
| < Trước | Tiếp > |
|---|